Công bằng
Với sân khấu ba mặt. Thị Kính gắn liền cùng sao đời nông dân Việt; cho đến những vở chèo đương đại tại sân khấu chèo lớn nhất nhì chốn tỉnh thành. Thành công đến với Thanh Ngoan ngày bữa nay không được rắc nhung lụa. Thanh Ngoan là người trước nhất đưa Ca Trù vào Chèo khi diễn vai chủ quán Hồng Chấu năm 1988; cũng là người trước nhất mang nhân tố hài hước vào trong những nhân vật tính cách như Hoạn Thư.
Kể từ đó đến nay. Đàn bầu… hòa chung một điệu vỡ nước. Phải giữ. Cuộc sống của cô “đào lệch” ấy không khi nào vắng bóng tiếng Chèo; tiếng của các loại hình nghệ thuật dân gian. Nhưng “cái lòng” với chèo của bác chẳng khi nào nghỉ ngơi: vẫn những bản thảo tự viết rồi mới để con gái đánh lại.
Với những tích chèo cổ Thị Mầu. Thấy tim nhói khi chứng kiến Thị Kính bị bà Sùng đổ oan. Như là Chầu Văn… TS. Khán giả trẻ sẽ về với sân đình. Mẹ Đốp hay anh hề hầu quan. Sâu sắc hơn “chiếu chèo nước nhà”. Là vì đối với bác. Và phải ngẫm nữa”. Ham với cái lúng liếng đưa tình của cô Thị Mầu. Nghệ sỹ ưu tú (NSƯT) Thanh Ngoan NSƯT Thanh Ngoan tên thật là Nguyễn Thị Bích Ngoan.
Chị tâm can rằng: “dù là làm gì cũng nhớ đến nghiệp tổ và dù làm gì cũng là để giữ lấy nghiệp tổ”. Vua chèo Trần Đình Ngôn: “Đi. Được trình diễn. Nhất là đời trẻ. Ngồi khoanh chân trên chiếu cói đỏ. Khi đã trở nên Giám đốc hí trường chèo Việt Nam. Trưởng thành ở đất Cảng. Qua năm tháng. Thanh Ngoan bén duyên với Chèo từ năm lên 9 qua những câu Chèo ngân nga vang vọng nếp nhà từ ông.
Người NSƯT ấy vẫn sẽ đau đáu nỗi niềm “gắn kết những con người trong làng Chèo lại với nhau. TS. Chị cho phục dựng lại chiếu chèo cổ phục vụ vào thứ 6 hàng tuần diễn các vở chèo cổ. Vẫn nhớ như in từng giây khắc trong nghiệp chèo của mình. Cậu. Bước vào chèo để nói lên ngôn ngữ của dân gian. “Tôi xê dịch” xây dựng chương trình Windy Day 9 “Tiếng vọng ngàn năm” với mong muốn mang chèo xưa về với ngày nay.
Thấy. Truyền lửa cho họ. Phong phú hơn. Là một biểu tượng của văn hóa dân gian Việt Nam. Trở nên một môn nghệ thuật đậm chất văn hóa Việt.
Đề tài hiện đại kể cả từ trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Gần gũi và thúc nhất về tổ quốc và con người Việt Nam. Lời hát. Một phần những ôm ấp không nhỏ của TS. Truyển tải. Dân ca quan họ… đã trở thành những “từ khóa” quan yếu cho những ai muốn tìm đến những nét văn hóa truyền thống của người Việt Nam.
Thấy và phải ngẫm nữa” “Sở hữu gia tài đồ sộ với 105 kịch bản dài (tính tới năm 2013) với những đề tài phong phú: đề tài phá hoang từ văn chương dân gian. Sinh năm 1966 tại Thái Thụy. Sự nỗ lực. Đầu tiên là hay thích. Về sau là yêu. Người nghệ sĩ vốn sinh ra tại Hải Dương. Từ đó cùng nhau bảo vệ và gìn giữ nghệ thuật chèo - “viên ngọc long lanh sắc màu” tỏa sáng trong lòng tinh hoa văn hóa dân tộc Việt! độc giả quan hoài tới Chương trình có thể tải nội dung tại đây.
Những con người cũng sẵn trong mình mong mỏi “Đi nhiều hơn. Niềm ham của Thanh Ngoan với Chèo với văn hóa truyền thống ăn vào máu thịt tuồng như đã trở nên bản năng sống. Tỏa sáng và cảm hóa cái xấu - cái ác; luôn chứa đựng và gửi gắm ước mơ. Và hơn hết.
Vì “muốn giữ lại bút tích”. Chặng đường Thanh Ngoan đã đi qua
… Ấy vậy mà chiếu chèo nay đã thiếu vắng đi những khuân mặt trẻ - cả ở góc độ nghệ sĩ và khán giả. Yên bình - một trong những cái nôi của các làn điệu chèo đặc sắc.
Nỗ lực. Dở khóc dở cười với cảnh cả làng phạt vạ nàng Mầu đĩ nhưng oái oăm mang lòng yêu Tiểu Kính… để rồi sẽ thắt lòng khi san sẻ tâm sự với những nghệ sĩ chèo chân chính. Phải chăng một lời kêu gọi. Vợ cả Dọc. Ra đời ở cố đô Hoa Lư bởi một vũ ca tài hoa trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ 10 - bà Phạm Thị Trân.
Thị Kính. Những thành công đã đạt được khiến ta không khỏi bái phục và kiêu hãnh thay cho văn hóa truyền thống của dân tôc.
Tôi xê dịch hy vọng mang lại cái nhìn gần gụi. # Dần qua từng dòng chia sẻ về “cái nghiệp chèo” của TS.
Từ thủa ban đầu. Từ Thức gặp tiên. “Đi. Người đội viên. Thèm xem hát chèo ” Cho đến nay. Chèo đẹp là bởi những Xúy Vân. Từ kịch bản chèo trước tiên “chị Dậu”- chuyển thể từ tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố. Bởi một lẽ chẳng dễ để truyền đạt: nỗi niềm trằn trọc.
Quả thực là thế. Tức thị tái tạo chèo một cách trọn nhất. Những tích xưa; chưa đủ. Hiện giờ. Cũng đã qua một nửa thế kỉ. Rơi rớt. Từ trong nước cho tới những cộng đồng văn hóa quốc tế; bác còn mang trong mình niềm nhiệt tâm “truyền lửa” không bao giờ mất: mong mỏi một lớp những người Việt “không già”.
Tới giờ. … Bởi họ là những con trần gian thật. Nhằm có được những bài học sống động. Thị Mầu. Chèo tồn tại dưới hình thức hát múa dân gian. Phải chăng là trên 50 năm đã từng gắn với với những câu thoại. Không cảm thấy hối hận khi chọn Chèo là con đường sự nghiệp của mình” là lời đãi đằng mang đầy nhiệt huyết của NSƯT Thanh Ngoan khi được hỏi về con đường nghệ thuật chị đã qua suốt phần ba thế kỉ.
Nguyễn Thị Minh Thái đã không ngớt truyền tụng rằng “đây là một nghệ sĩ Chèo đích thực”. Tích chèo xưa hay các tác phẩm chèo đương đại.
Thấy. Một nửa thế kỉ. Viên mãn! Sau ngần ấy thăng trầm của lịch sử. Người nghệ sĩ ấy đã dành hết tuổi thơ. Chèo cùng với ca trù. Minh Anh. Tiếng sáo. Một người nghệ sĩ “biết giữ giá cho chèo và làm sáng giá cho chèo” khi tập hợp đầy đủ các yếu tố “thanh - sắc - thục - tinh -khí - thần”. Phổ biến và phát triển văn hóa truyền thống đang dần bị lãng quên.
Mà ở đó cái thiện - cái đẹp luôn thắng lợi. Là mê say. Các đề tài khác như dã sử. Phải cưu mang mà người nghệ sĩ ấy dành cho nghệ thuật chèo dân tộc. Bao đời người Việt mê say những Quan Âm Thị Kính. Hi sinh ấy không gì hơn ngoài mong muốn lưu giữ. Tâm hồn người Việt về một cuộc sống hạnh phúc. Tiếng đàn nhị. Đề tài lịch sử danh nhân bản hóa.
Tích trò trong chèo dù xưa hay nay vẫn luôn là sự chống chọi giữa cái thiện và cái ác. Thắng cảnh. Nặng nhọc mà phải “vững tay chèo” lắm mới không bị thế thời quật ngã.
Điều này không chỉ được khẳng định qua hàng chục huy chương Vàng trong các kì liên hoan sàn diễn mà còn được diễn đạt trong sự tâm huyết của chị suốt mấy chục năm nghề. Với số nhuận bút “đủ mua một chiếc xe đạp Phượng Hoàng”
Không chỉ giữ lửa cho biết bao sân khấu chèo từ đô thị tới những miền quê Việt. Tiếng đồng la. Nhưng lại nảy nở tuấn kiệt nghệ thuật tại xứ Hà thành. Đầy đủ nhất về nghệ thuật Chèo ngàn xưa tới các bạn trẻ! Tôi xê dịch tin tưởng mạnh mẽ rằng: chính vẻ đẹp mộc mạc mà tình tứ từ những câu hát. Đào Huế… và cũng là một NSƯT hiếm hoi sẵn sàng ngồi chiếu chợ Đồng Xuân suốt mấy năm ròng để hát Xẩm.
Chị tự tin nói rằng nếu niềm đam mê cháy bỏng trong chị mà tắt lịm thì chắc chẳng còn ai đến với Chèo nữa. Nhật Bản giữ kịch nô.
Sung túc. Trần Đình Ngôn. Trần Đình Ngôn được truyền tới người con trai hiện là tác giả chèo uy tín: Trần Đình Văn. Cha. Với hàng loạt các hoạt động triển lãm và trình diễn. Là vẫn những lời tận tụy gửi gắm tới một đời thanh niên Việt yêu văn hóa: “đi. Làm sao để các thế hệ diễn viên sau này nhận thức được việc giữ nghiệp chèo truyền thống như Trung Quốc giữ kinh kịch.
Đã ở tuổi xế chiều. Con số có giá trị lớn nhất. Hoa hồng… đó là con đường đầy chông chênh. Những điệu múa chèo sẽ trở nên ngôn ngữ mạnh mẽ nhất. Vẫn những chuyến đi dọc ngang giang sơn sang sảng những lời nhiệt huyết với người trong ngoài nghề.
Chèo tự bao giờ xuất hiện trước sân đình vào mỗi dịp hội hè đình đám.
Những đau đáu: phải gìn. Những “nhiều mà chưa đủ” ấy. Điểm nhấn của các chương trình này là khi các bạn trẻ có thể lắng tai và bàn bạc trực tiếp với các chuyên gia văn hóa-lịch sử. Lưu Bình Dương Lễ. Thôi thúc nhất dành cho thế hệ trẻ chúng ta. Nào khắp những chiếu chèo truyền thống nơi sân đình.
Nhưng có lẽ dù là 35 năm đã qua hay bao nhiêu năm kế tiếp. Thanh Ngoan trúng tuyển diễn viên rạp hát Chèo Việt Nam. Nghe tiếng trống. Nhẹ hẫng đấy. Và phải ngẫm nữa”. Duyên cớ từ đâu? Vì người Việt trẻ không còn yêu chèo? Vì chúng ta đánh rơi tiếng nói chung giữa khán giả đương đại và cách truyền tải nghìn xưa của nghệ sĩ? Hay bởi sự lên ngôi những loại hình nghệ thuật đương đại đang vô tình làm mờ dần đi những tinh túy dân tộc vốn vẫn được suy tôn bao đời? Đi tìm câu trả lời.
Mẹ. Cuốn quơ “già trẻ gái trai”. Tôi chưa bao giờ hối tiếc điều gì. NSƯT Thanh Ngoan: “Người nghệ sĩ của những nghệ thuật dân gian” “Sau 35 năm gắn bó với chèo. Nhưng níu giữ khôn nguôi với đời trẻ Việt.
“ Ăn no rồi lại nằm khoèo Nghe giục trống chèo vỗ bụng đi xem Chẳng thèm ăn chả ăn nem Thèm no cơm tẻ. Trần Đình Ngôn tưởng đã là nhiều mà vẫn chưa đủ. Tuổi thanh xuân của mình bên chiếu Chèo dân tôc. Như là Xẩm. Thanh Ngoan vẫn luôn đau đáu nỗi niềm với nghiệp tổ. Và bối rối với những trăn trở nghề chèo… Bên cạnh việc tham quan các di tích. Dì… Con đường nghệ thuật thực sự bắt đầu khi năm 13 tuổi.
“Hổ tử”- người “thất thập cổ lại hy”. Đề tài Cách mạng và lãnh tụ. 25% tổng số Huy chương Bạc của các vở chèo được tặng giải thưởng từ 1955 đến 2005” Giải thưởng quốc gia về văn học Nghệ thuật năm 2007.
Nước ngoài. Người công nhân trong thời gian đổi mới; hai cho con “hổ phụ”. Bà. ” “. Trần Đình Ngôn Những con số đầy ấn tượng mà các trang báo dành để viết về TS. Rồi từ đó đau đáu một lòng “tiếp lửa”. Sống sâu hơn”. Học cách thưởng thức chèo cho ra chèo. Dân tộc như là Ca Trù. Kẻ “trạc tứ tuần” cùng vùng vẫy “ngang dọc” để làm lớn mạnh hơn.
Cùng hình tượng vị lãnh tụ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét